Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ luật hình sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ luật hình sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Các loại hình phạt trong Bộ Luật Hình Sự (phần 2)

Ở chuyên mục trước, Văn phòng Luật sư Số 5 Hà Nội đã đưa thông tin về "Các loại hình phạt trong Bộ Luật Hình Sự". Và ở bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về trường hợp áp dụng và nội dung trong từng hình phạt.

Các loại hình phạt trong Bộ Luật Hình Sự (phần 1)

Điều 29. Cảnh cáo

Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

Điều 30. Phạt tiền
Cac loai hinh phat trong Bo Luat Hinh Su hinh anh 1


1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

2. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định.

3. Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng.

4. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án.

Điều 31. Cải tạo không giam giữ

1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.

2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

Điều 32. Trục xuất

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam .

Trục xuất được Toà án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

Điều 33. Tù có thời hạn

Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

Điều 34. Tù chung thân
Cac loai hinh phat trong Bo Luat Hinh Su hinh anh 2


Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội.

Điều 35. Tử hình

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Điều 36. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định


Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó, thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Điều 37. Cấm cư trú

Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định.

Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 38. Quản chế

Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định.

Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Điều 39. Tước một số quyền công dân

1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:

a) Quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước;

b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Điều 40. Tịch thu tài sản

Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước. Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật này quy định.

Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự cũng quy định một số trường hợp được xóa án tích đương nhiên:

Điều 64. Đương nhiên được xoá án tích

Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1. Người được miễn hình phạt.

2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.

Như vậy, những trường hợp được xóa án tích có nghĩa là những tội danh trước đây sẽ không còn ý nghĩa về mặt pháp luật.

Luôn lắng nghe và tư vấn miễn phí mọi thắc mắc của bạn!
Hà Nội: (04) 3537 7398
Tp.HCM: (08) 3500 1983
Hotline: 0918 50 70 70
Email: info@vanphongluatsu5.com

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Mức án nào cho hung thủ vụ thảm sát tại Bình Phước?

Vừa qua, dư luận xã hội đang xôn xao về vụ việc thảm sát tại tỉnh Bình Phước. Với hành vi nguy hiểm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, lẽ tất nhiên ai cũng sẽ nghĩ hung thủ Nguyễn Hải Dương (ngụ An Giang) và đồng phạm Vũ Văn Tiến chịu mức án tử hình.

Vũ Văn Tiến (trái) và Nguyễn Hải Dương (phải)

Không chỉ có vậy, nhiều người còn tỏ ra bất bình và cho rằng mức án tử hình vẫn chưa đủ để hung thủ đền tội. Tuy nhiên nếu đứng xét ở góc độ là người thân hung thủ, trước những phút giây lỡ lầm của con mình, ắt hẳn cha mẹ nào cũng không giữ được bình tĩnh và luôn muốn con mình được giảm nhẹ tội.

Vậy liệu có cách nào để giảm nhẹ án cho 2 hung thủ trẻ tuổi này không?

Theo quy định của pháp luật, người phạm tội giết người có thể thoát án tử nếu thuộc 2 trường hợp sau:

1. Lúc gây án, hung thủ mắc bệnh tâm thần hoặc một loại bệnh khác, gây mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

2. Có các điều kiện thuộc tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điều 46 Bộ Luật Hình Sự như sau:

- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra
- Phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức
- Phạm tội do lạc hậu
- Người phạm tội là phụ nữ có thai
- Người phạm tội là người già
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
- Người phạm tội tự thú
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác

Như vậy, trong quá trình điều tra, làm việc với các luật sư bào chữa, nếu các hung thủ chứng minh hoặc có những điều kiện nằm trong tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, thì cơ may thoát án tử cho các hung thủ có thể có.
Tuy nhiên, nếu hung thủ không phải chịu mức án tử hình, liệu có thể trấn an dư luận và có được sự đồng tình của người dân không? Khi mà hiện nay hầu hết mọi người đều phẫn nộ trước hành vi man rợ của 2 hung thủ trẻ tuổi này?
Hà Nội: (04) 3537 7398
Tp.HCM: (08) 3500 1983
Hotline: 0918 50 70 70
Email: info@vanphongluatsu5.com

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Các loại hình phạt trong Bộ luật hình sự

Mức hình phạt trong Bộ luật hình sự được quy định rõ ràng theo từng cấp độ trong khung hình phạt. Văn phòng luật sư Số 5 xin thông tin đến quý khách tổng quan về các hình phạt được pháp luật hình sự quy định.

Các hình phạt được quy định trong chương V Bộ luật hình sự năm 1999 có nội dung như sau:


Điều 28. Các hình phạt


Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.


1. Hình phạt chính bao gồm:


A) Cảnh cáo.


B) Phạt tiền.


C) Cải tạo không giam giữ.


D) Trục xuất.


Đ) Tù có thời hạn.


E) Tù chung thân.


G) Tử hình.


2. Hình phạt bổ sung bao gồm:


A) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.


B) Cấm cư trú.


C) Quản chế.


D) Tước một số quyền công dân.


Đ) Tịch thu tài sản.


E) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.


G) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.


3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.



cac loai hinh phat trong bo luat hinh su hinh anh
Các loại hình phạt trong Bộ luật hình sự (ảnh minh họa)
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SỐ 5 HÀ NỘI
TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ MIỄN PHÍ!
0918 50 70 70
Email: info@vanphongluatsu5.com

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Những thay đổi trong Bộ luật hình sự về kinh tế

Việc thay đổi, bổ sung một số điểm trong Pháp luật hình sự về doanh nghiệp sẽ tạo nên nhiều sự thay đổi mới, góp phần kiểm soát sự vận hành của các hoạt động kinh tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phạm Quý Tỵ, Tổ trưởng Tổ biên tập dự án Bộ luật Hình sự sửa đổi cho biết, dự thảo dự định sẽ bỏ 3 loại tội danh:
- Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
- Báo cáo sai trong quản lý kinh tế
- Quảng cáo gian dối và tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

nhung thay doi trong bo luat hinh su ve kinh te hinh anh
Những thay đổi trong Bộ luật hình sự về kinh tế (ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, trong số 7 hình phạt được Bộ luật hình sự hiện hành quy định thì có 4 hình phạt không tước tự do của công dân. Đó là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất. Trong lần sửa đổi này, dự thảo quy định theo hướng tăng hình phạt tiền. “Để tăng hình phạt tiền, chúng tôi dự kiến quy định mấy điểm mới. So với hiện hành, loại tội được quy định có hình phạt tiền được mở rộng hơn; không chỉ được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng mà có thể mở rộng tới tội nghiêm trọng. Tức là tới đây có thể xử phạt tiền với loại tội có khung hình phạt tới 7 năm tù”, ông Tỵ cho biết.

Để khắc phục thực tế thời gian vừa qua có tình trạng các bị cáo không nộp khoản tiền phạt theo bản án của tòa, dự thảo quy định khi tòa án áp dụng hình phạt tiền thì trong một thời gian nhất định người phạm tội phải chấp hành, nếu hết thời hạn mà không nộp tiền thì sẽ chuyển từ hình phạt tiền sang hình phạt tù. Tuy nhiên, phương thức chuyển đổi thế nào là vấn đề còn đang vướng mắc, bởi thu nhập trên ngày công lao động ở Việt Nam chưa được xác định rõ ràng.

Đáng lưu ý, ban soạn thảo Bộ luật hình sự đã thiết kế một quy định xử lý hành vi kinh doanh "tiền ảo" - một loại tội phạm mới xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.

Về y tế và bảo hiểm y tế, mặc dù có thể vận dụng một số quy định của Bộ luật hình sự để xử lý đối với hành vi gian lận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và hành vi trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm, song đây là lĩnh vực có những đặc thù nhất định với nhiều dạng vi phạm khác nhau, xảy ra tương đối phổ biến.

Bên cạnh đó, thiệt hại gây ra cho người tham gia bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế) và thiệt hại về tài sản của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là tương đối lớn. Việc áp dụng chung chính sách xử lý hành vi gian lận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và hành vi trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm xã hội như với những hành vi khác (lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản...) là không phù hợp với bản chất cũng như tính chất, mức độ của hành vi vi phạm. Do vậy, việc bổ sung các tội danh về hai loại hành vi vi phạm này là phù hợp, góp phần bảo đảm thực hiện chính sách an sinh xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho môi trường đầu tư kinh doanh nói riêng và của nền kinh tế thị trường nói chung phát triển.

(Nguồn: Diễn đàn doanh nghiệp)

Với những thay đổi trên, hy vọng sẽ tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc hơn cho các hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Khi có vấn đề thắc mắc hay cần hỗ trợ giải quyết, quý khách hãy liên hệ ngay chúng tôi để được tư vấn chuyên nghiệp và miễn phí!
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SỐ 5

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số 04, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (08) 3500 1983
Fax: (08) 2220 2325
Hotline: 0918 50 70 70


TẠI HÀ NỘI
Nhà A2, ngõ 30, phố Trần Quang Diệu, phường Ô Chợ Dừa,
quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội
Điện thoại: (04) 3537 7398
Fax: (04) 3537 7398

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Tội cố ý gây thương tích

Cố ý gây thương tích là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự với mức hình phạt cao nhất là án tù chung thân.

Điều 104 Bộ luật hình sự

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân
- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê
- Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người
- Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình
- Có tổ chức
- Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê
- Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

Tuy nhiên theo Điều 88 Bộ luật hình sự (sửa đổi) thì những trường hợp cố ý gây thương tích trên chỉ bị xử lý hình sự khi có yêu cầu của người bị hại.
toi co y gay thuong tich
Tội cố ý gây thương tích (ảnh minh họa)
2. Phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 sẽ bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.

3. Phạm tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 sẽ thì bị phạt tù từ 5 đến 15 năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác sẽ bị phạt tù từ 10 đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Theo đó tùy từng trường hợp cụ thể mà pháp luật sẽ giám định mức độ tổn hại để đưa ra mức án theo khung hình phạt.


VĂN PHÒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số 04, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (08) 3500 1983
Fax: (08) 2220 2325
Hotline: 0918 50 70 70


VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI
Nhà A2, ngõ 30, phố Trần Quang Diệu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội
Điện thoại: (04) 3537 7398
Fax: (04) 3537 7398

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

Tội giết con mới đẻ và mức án

Gần đây, báo chí và các trang mạng liên tục đưa tin về hành vi những người mẹ trẻ giết con mới đẻ do chính mình sinh ra. Cách gây nên cái chết thương tâm đó có thể khác nhau, nhưng đều là tội ác cả về pháp luật và đạo đức. Vậy pháp luật sẽ xử lý như thế nào?

Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về tội giết con mới đẻ như sau:

Tội giết con mới đẻ do người mẹ thực hiện là trường hợp đặc biệt của tội giết người. Chủ thể của tội giết con mới đẻ là tội phạm có chủ thể đặc biệt chỉ là người mẹ. Bởi lẽ, chỉ có người mẹ mới có thể lâm vào tình trạng tâm sinh lý không bình thường do tác động của việc sinh con trong khoảng thời gian theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao là 7 ngày kể từ ngày sinh con kết hợp với hoàn cảnh bất đắc dĩ (do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc do hoàn cảnh đặc biệt khác) mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa con mới đẻ dẫn đến hậu quả chết người. Còn người cha không thể rơi vào trạng thái này được và người cha mà giết con mới đẻ thì thuộc trường hợp giết người bình thường.

Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
toi giet con moi de
Tội giết con mới đẻ và mức án (ảnh minh họa)

Có ý kiến cho rằng, hình phạt như vậy là chưa thỏa đáng, nhưng rõ ràng pháp luật Việt Nam nói chung và Bộ luật Hình sự nói riêng đã thể hiện tính khoan hồng, xét đến tận yếu tố tâm lý người phạm tội.
Hy vọng với chính sách đó, những bà mẹ trẻ có thể ăn năn và sống tốt hơn sau những cú sốc tâm lý dẫn đến hành vi tội lỗi.
Những chia sẻ trên của Văn phòng luật sư Số 5 hy vọng đã phần nào giải đáp được thắc mắc của nhiều bạn đọc.
Nếu có bất cứ vướng mắc nào liên quan đến pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ:

VĂN PHÒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số 04, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (08) 3500 1983
Fax: (08) 2220 2325
Hotline: 0918 50 70 70


VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI
Nhà A2, ngõ 30, phố Trần Quang Diệu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội
Điện thoại: (04) 3537 7398
Fax: (04) 3537 7398


Bỏ án tử hình cho một số tội danh

Những tội danh hình sự được đề xuất bỏ án tử hình bao gồm:
- Tội cướp tài sản.
- Phá hủy công trình.
- Phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.
- Chống mệnh lệnh.
- Đầu hàng địch.
- Phá hoại hòa bình.
- Gây chiến tranh xâm lược.
- Chống loài người.
- Tội phạm chiến tranh.
Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại hội thảo được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức tại Hòa Bình ngày 24/3.
Báo Dân trí dẫn lời ông Ông Nguyễn Tất Viễn - Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương cho biết, Bộ luật Hình sự hiện hành có 22 tội danh quy định xử án tử hình, nếu bỏ đi 7 tội thì vẫn còn là quá cao. Ông cho rằng việc thu hẹp phạm vi áp dụng án tử hình là hết sức cần thiết.
Đồng tình với ông Viễn, Phó chánh án TAND Tối cao Nguyễn Sơn cho biết trong quá trình thảo luận, góp ý cho dự thảo bộ luật này đã có nhiều ý kiến cho rằng nên loại bỏ tử hình ở một số tội danh khác nữa.
bo luat hinh su
Bỏ án tử hình cho một số tội danh trong Bộ luật Hình sự (ảnh minh họa)

Bên cạnh quy định không áp dụng án tử hình đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi như hiện nay, dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) bổ sung thêm đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 70 tuổi trở lên.
Các đại biểu cũng đồng tình với việc giữ án tử hình đối với một số tội như tội tham nhũng và tàng trữ, vận chuyển ma túy bởi việc buôn bán, vận chuyển chất ma túy bởi những tội danh này cần phải nghiêm trị và vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp nên cần phải có biện pháp xử lý nghiêm.
Mọi vướng mắc liên quan đến tư vấn và thực hiện các thủ tục pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ:

VĂN PHÒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số 04, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (08) 3500 1983
Fax: (08) 2220 2325
Hotline: 0918 50 70 70


VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI
Nhà A2, ngõ 30, phố Trần Quang Diệu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội
Điện thoại: (04) 3537 7398
Fax: (04) 3537 7398